Ý nghĩa của chữ ĐỨC trong Phật giáo

Ý nghĩa của chữ ĐỨC trong Phật giáo
Ý nghĩa của chữ ĐỨC trong Phật giáo

Đức là một khái niệm triết học và phổ quát trong các truyền thống đạo học của phương Đông. Lão giáo, Phật giáo và Khổng giáo  quan niệm về chữ đức có chút phần khác biệt nhau nhưng đại thể thì có nét tương đồng. Theo Tự điển Hán-Việt, chữ đức có nhiều nghĩa như đạo đức, điều thiện, ân đức, đức hạnh. Còn theo từ điển Tiếng Việt đức là cái biểu hiện tốt đẹp của đạo lý trong tính nết, tư cách và hành động của con người.

Theo phép chiết tự (chữ Hán) đức là chữ hội ý, có nghĩa gốc chính là đi theo con đường đạo. Đạo giáo quan niệm tu thân tới mức hiệp nhất với trời đất và an hòa với người là có đức. Theo như Đạo Đức kinh, đức luôn được vận hành với đạo, trong đó đạo chính là yếu tố có trước và đức có sau, phụ thuộc vào đạo. Khổng giáo quan niệm sống đúng với luân thường chính là có đức. Đức là cái gốc muôn hạnh cũng là cái gốc để cho con người lập thân. Đức là đức hạnh tốt, phần tốt đẹp, sự thẳng thắn của con người. Trong Kinh Dịch có câu “Quân tử tiến đức tu nghiệp” nghĩa: người quân tử rèn luyện về phẩm hạnh và đạo đức để vun bồi, xây dựng sự nghiệp.

Ý nghĩa của chữ ĐỨC trong Phật giáo
Ý nghĩa của chữ ĐỨC trong Phật giáo

Trong Phật giáo, chữ đức nó mang ý nghĩa vô cùng rộng lớn, bao hàm các phương diện thể, tướng, dụng của đức với Nhị đức, Tam đức, Tứ đức và Ngũ đức… Theo Từ điển Phật học Huệ Quang (do Thích Minh Cảnh làm chủ biên), đức chính là điều đạt được do sự tu hành chánh đạo. Nhị đức gồm có Trí đức tức là Bồ đề-trí huệ viên mãn và Đoạn đức tức là Niết bàn-dứt hết phiền não. Ngoài ra, Tính đức chính là bản tính chân thật vốn có và Tu đức đạt được là do tu hành cũng được gọi là Nhị đức.

Tam đức chính là ba đức tướng của Niết bàn gồm: Pháp thân đức là Chân như sẵn đủ xưa nay của tất cả các pháp, Giải thoát đức chính là thoát ly sự trói buộc của phiền não và Bát nhã đức chính là trí tuệ giác ngộ. Tam đức về phương diện ba tương của quả vị Phật bao gồm: Đoạn đức là diệt hết tất cả phiền não, Trí đức là trí tuệ quán sát tất cả pháp và Ân đức là nguyện lực cứu độ chúng sanh. Tam đức về phương diện ba đức tướng viên mãn của Như Lai ao gồm Nhân viên đức, Ân viên đức và Quả viên đức.

Tứ đức, bốn đức Pháp thân của Như Lai bao gồm: Thường, thể tính của Pháp thân Như Lai chính là thường trụ, không bao giờ dời đổi. Lạc, Pháp thân Như Lai lìa hẳn các khổ và trụ trong an vui hoàn toàn của Niết bàn tịch tịnh; Ngã, Pháp thân Như Lai tự tại vô ngại, siêu việt hữu ngã và vô ngã. Tịnh, Pháp thân Như Lai lìa cấu nhiễm, thanh tịnh và vắng lặng.
Và tất nhiên, ở trong đạo Phật, chữ đức luôn mang ý nghĩa quan trọng chính là đạo đức, đức hạnh. Phật học từ điển định nghĩa: Điều lành, sự ăn ở theo giới hạnh, những việc làm có lợi ích cho chúng sanh, ấy là đức. Khái niệm Ngũ đức là thiên về phương diện đạo đức này. Đơn cử như năm đức của giới sư bao gồm: giữ giới, mười hạ trở lên, thông hiểu thiền định, thông hiểu tạng Luật và có trí tuệ. Năm đức một vị Sa di phải biết đó là: một chính là phát tâm xuất gia, vì cảm bội Phật pháp; hai chính là hủy bỏ hình đẹp, vì thích ứng pháp y; ba chính là cát ai từ thân, vì không còn thân sơ; bốn chính là không kể thân mạng, vì tôn sùng Phật pháp; và năm là chí cầu Đại thừa, vì hóa độ mọi người v.v…

Mặc dù chữ đức ở trong Phật giáo có vô lượng nghĩa nhưng đều được thiết lập ở trên một nền tảng cơ bản là hoàn thiện nhân cách đạo đức ở mỗi con người. Vì thế, để tu nhân tích đức (cho mình trong hiện tại và cho mai sau hay cho con cháu về sau) theo Phật giáo có nhiều phương thức nhưng khái quát nhất và dễ thực hành nhất chính là tuân thủ năm nguyên tắc đạo đức của Phật tử (không giết hại, không trộm cướp, không tà hạnh và không nói dối, không dùng những chất gây nghiện và say sưa) đồng thời học tập, ứng dụng triệt để bài kệ: “Không làm các điều ác; Chuyên làm các việc lành; Giữ tâm ý thanh tịnh; Đó chính là lời Phật dạy” trong đời sống hàng ngày.